Monday, November 24, 2008

Urani - nguồn nguyên liệu vô tận?


07/09/2006
Từ mấy năm nay, qua các phương tiện truyền thông đại chúng trong nước và cả ở nước ngoài, một cuộc thảo luận khá sôi nổi về dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở Ninh Thuận trong khoảng thời gian từ 2017 tới 2020. Nhiều khía cạnh, vấn đề liên quan đã được phân tích cặn kẽ. Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập tới nguồn nguyên liệu chính trong việc sản xuất điện hạt nhân, đó là urani.



Trữ lượng urani và các kịch bản về nhu cầu của thị trường


Theo tài liệu công bố năm 2001, Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (International Atomic Energy Agency - gọi tắt IAEA) đã nghiên cứu khả năng cung cấp nguyên liệu ấy trong 50 năm đầu của thế kỷ 21. IAEA xem xét cả các nguồn urani chính khai thác từ quặng mỏ lẫn các nguồn phụ chẳng hạn như kho dự trữ, nguồn thu hồi từ vũ khí hạt nhân được thanh lý và quặng đuôi (tails).

Tùy theo mức độ hiểu biết về đặc điểm của các nguồn urani chính, người ta phân biệt giữa nguồn chắc chắn - RAR, nguồn bổ sung hạng I / II - EAR I / EAR II và nguồn suy đoán có urani - SR.
IAEA mô tả ba kịch bản như sau:
a) Nhu cầu của thị trường thấp khi kinh tế thế giới tăng trưởng trung bình, các chính sách năng lượng có định hướng bảo vệ môi trường, nhu cầu năng lượng tăng một ít, điện hạt nhân từng bước bị hủy bỏ cho tới năm 2100. Với lượng tiêu thụ 3.390.000 tấn U trong khoảng thời gian từ 2000 đến 2050 hay 67.800 tấn U/năm, riêng các nguồn RAR cũng đủ đáp ứng nhu cầu.
b) Thị trường tiêu thụ urani ở mức trung bình khi các điều kiện kinh tế và năng lượng giống trường hợp trên, ngoại trừ việc sử dụng điện hạt nhân tiếp tục phát triển trên khắp thế giới, đòi hỏi phải có tất cả 5.394.100 tấn U. Nếu chỉ tính các mỏ urani biết rõ và khá rõ (RAR + EAR I) thì sẽ thiếu 146.000 tấn, còn nếu kể cả các mỏ có tiềm năng khai thác (RAR + EAR I + EAR II) lại thừa hơn 2 triệu tấn.

Tuy nhiên, trong thực tế khả năng sản xuất urani thấp hơn nhiều so với lượng nguyên liệu tiềm ẩn trong quặng mỏ, dẫn tới sự thiếu hụt 845.000 tấn hoặc 307.000 tấn U, tùy theo cách tính. Không kể các nguồn EAR II, từ năm 2034 trở đi, sản lượng urani sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu, bình quân mỗi năm thiếu khoảng 32.500 tấn.
c) Với kịch bản thị trường tiêu thụ urani ở mức độ cao (7.577.300 tấn), sự mất cân bằng giữa cung và cầu còn trầm trọng hơn: lượng urani sản xuất từ các nguồn RAR + EAR I sẽ thiếu tới gần 3 triệu tấn. Tình trạng này xảy ra khi kinh tế thế giới phát triển mạnh, hướng tới „năng lượng sạch và dồi dào“ nhưng không dùng những biện pháp chặt chẽ để bảo vệ môi trường và gia tăng sản xuất điện hạt nhân một cách đáng kể. Tình trạng khan hiếm bắt đầu năm 2026; trung bình mỗi năm sau đó thiếu tới 123.000 tấn U.


Các nguồn phụ cung cấp 42 % lượng urani sử dụng trong năm 2000 sẽ giảm dần theo thời gian. Tới năm 2025, tỉ lệ này chỉ còn 11 % hoặc 8 % tùy nhu cầu ở mức trung bình hay cao.


Bên cạnh các nguồn urani thông thường kể trên, IAEA cũng đề cập tới lượng urani là sản phẩm phụ khi khai thác các mỏ photphat, mônazit, than, đá phiến đen... Huy động tất cả các nguồn urani có được, kể cả những nguồn ít bảo đảm hay có hàm lượng thấp và kể cả những nguồn phải khai thác với chi phí lớn, mới đủ cung ứng cho thị trường với mức tiêu thụ trung bình hoặc cao.


Kết luận trên của IAEA đã có năm năm về trước. Mới đây, Peter Diehl khảo sát lại trữ lượng urani trên thế giới theo yêu cầu của tổ chức Hoà Bình Xanh (Đức). Ông đưa ra các nhận định sau đây:
- Trữ lượng urani chỉ vừa đủ cung cấp cho thị trường có nhu cầu thấp đều cho tới năm 2040 rồi giảm xuống sau thời điểm đó. Nếu nhu cầu ở mức độ trung bình hay cao, các nguồn urani sẽ cạn kiệt vào năm 2048 hoặc 2040.
- Ngay cả với mức tiêu thụ hiện nay, lượng urani khai thác từ quặng mỏ phải được tăng gấp đôi vào năm 2023 vì khi ấy các nguồn phụ đang cung cấp khoảng 50 % sẽ cạn kiệt. Do đó, năng lực sản xuất phải được tăng cường nhưng lại ít nơi nào chuẩn bị công việc đòi hỏi thời gian lâu dài ấy.
- Vì khó có thể tìm thêm mỏ urani giàu nên buộc phải khai thác các mỏ nghèo; điều này làm tăng chi phí sản xuất, đồng thời gây hậu quả tai hại hơn nữa cho môi trường sinh thái.
- Vấn đề cung cấp nguyên liệu sẽ trở nên nghiêm trọng nếu Trung Quốc và Ấn Độ triển khai chương trình năng lượng hạt nhân như theo dự tính, trong khi trữ lượng urani của những nước này lại rất nhỏ. Nga tuy có trữ lượng lớn hơn vẫn phải đương đầu với cuộc khủng hoảng urani trong vòng mười năm nữa.
Tóm lại, trữ lượng urani trên thế giới không phải vô tận mà sẽ cạn kiệt trong khoảng thời gian từ 2026 đến 2070; thời điểm thực tế là 2050.

Giá urani và vấn đề mua nguyên liệu, sản xuất nhiên liệu

Như mọi thứ hàng hóa khác, giá urani cũng lên xuống theo tỉ lệ giữa cung và cầu, tuy không tránh khỏi tác động đáng kể về mặt chính trị. Cuối những năm 70 của thế kỉ trước, chính phủ Mỹ mua thêm nhiều urani nên giá mỗi cân Anh (lb) U3O8 tại nơi sản xuất (spotprice) lên tới 43 USD/lb. Sau đó chẳng bao lâu, nó tụt xuống còn khoảng 10 USD/lb. Sau cuộc chiến tranh lạnh, giá urani dao động ở mức ấy với đỉnh nhọn gần 17 USD/lb U3O8 trong năm 1996 rồi lại giảm dần cho tới khi chỉ còn 7 USD/lb U3O8 vào cuối năm 2000. Những năm đầu thế kỷ 21, urani từ từ đắt hơn rồi tăng giá vụt lên gấp năm lần trong thời gian gần đây. Đến tháng 5-2006, giá mỗi cân Anh U3O8 tại nơi sản xuất đã cao hơn 40 USD với khuynh hướng tăng.


Nhà phân tích thị trường người Canađa Kevin Bambrough đưa giả thiết giá urani sẽ có lúc vượt mức 500 USD/lb. Để tính mức giá này, ông dựa vào số nhà máy điện hạt nhân dự kiến xây dựng thêm trong tương lai cũng như “thế kẹt” của chủ các nhà máy đang hoạt động. Bởi vì muốn thanh lý các nhà máy ấy, họ phải chi một số tiền to tướng nên cố kéo dài thời hạn sử dụng mặc dù giá nhiên liệu lên cao vì khan hiếm. Nhiều nhà phân tích khác dè dặt hơn, dự đoán urani tại nơi sản xuất sẽ có giá từ 40 đến 100 USD/lb trong vòng một, hai năm nữa.


Giá urani sẽ nằm ở mức cao trong thời gian dài nhưng nó không có tác động lớn tới giá điện: chi phí khai thác và xử lý quặng urani chỉ bằng 5 % tổng chi phí sản xuất điện hạt nhân hay khoảng 1,6 % giá điện người tiêu thụ phải trả. Vấn đề ở đây là không phải “có tiền thì mua U cũng được”. Do giới hạn về trữ lượng và khả năng cung cấp urani nói trên, các nước cần nhiều nguyên liệu này nhất (Mỹ, Pháp, Nhật, Nga và có lẽ cả Trung Quốc, Ấn Độ trong tương lai gần) cạnh tranh gay gắt với nhau, trong khi chỉ có bảy nước trên thế giới có khả năng xuất khẩu: Canađa, Úc, Cazăcxtan, Nigiê, Namibi, Uxbêkixtan và Nam Phi. Nhiều nước còn gặp một số khó khăn về chính trị khi tìm mua urani. Chẳng hạn như Nga đã mất các nguồn quan trọng sau khi Liên Xô tan rã; Cazăcxtan là nước có nhiều urani nhất trong khối Đông Âu cũ lại không bán cho Nga. Hay như Ấn Độ vì không ký Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí nguyên tử (Non Proliferation Treatise) nên không được phép mua urani của nước ngoài, buộc phải khai thác các mỏ nghèo trong nước. Trung Quốc cần nhiều nguyên liệu cho chương trình điện hạt nhân của mình nhưng không thể nhập urani từ Úc vì nước này lo ngại Trung Quốc có thể sử dụng cho mục đích quân sự.


Vì những trở ngại nêu trên, chắc hẵn mỗi quốc gia theo đuổi chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử đều nghĩ tới việc tự chủ về nhiên liệu và vật liệu hạt nhân. Theo TS. Hoàng Quốc Đô, Việt Nam có tiềm năng về quặng urani với trữ lượng ước tính lên tới 230.000 tấn U3O8. Ông cũng nêu rõ “nội dung chính về xây dựng và phát triển chương trình nhiên liệu hạt nhân ở Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 là:
- Tìm kiếm thăm dò và đánh giá khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên Urani ở Việt Nam.
- Nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ về chu trình nhiên liệu”.
Theo thiển ý của tôi, trước hết nên tìm hiểu kỹ đặc tính của các mỏ urani để có thể đánh giá việc khai thác có kinh tế hay không và gây hậu quả gì cho người dân địa phương cũng như môi trường sinh thái. Đề cập tới nỗ lực khai thác quặng urani nghèo của Ấn Độ, TS. C. Ganguly, chủ tịch Chu trình Nhiên liệu Hạt nhân (Nuclear Fuel Cycle) thuộc IAEA, khuyên nước này nên tìm giải pháp chính trị để tiếp cận công nghệ lò phản ứng mới nhất và mua urani ở thị trường quốc tế. (“Better buy uranium abroad if you can get it cheaper and not waste time by rediscovering the wheel”).

Tác động của việc khai thác mỏ urani


Trong dây chuyền sản xuất nhiên liệu hạt nhân (xem hình 1), hai khâu khai thác và chế biến quặng urani có tác động xấu nhất đối với con người và môi trường.


Quặng urani chủ yếu được khai thác bằng cách cổ điển ở mỏ lộ thiên hoặc mỏ ngầm. Nếu là mỏ lộ thiên, chỉ cần bóc lớp đất đá phủ tương đối mỏng để lấy quặng, còn mỏ ngầm thì phải đào hầm lò khá sâu qua lớp đá không quặng, có khi tới hai ba kilômet dưới lòng đất. Hàng triệu lít nước ô nhiễm bơm từ mỏ vào sông rạch, khiến lớp trầm tích ngày càng chứa nhiều chất phóng xạ hơn. Tuy việc thông khí ở mỏ giảm được phần nào tai hại cho sức khỏe công nhân, nhưng bụi phóng xạ và khí rađon thổi ra ngoài lại làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi cho người dân sống gần đó. Đá thải chất thành gò lớn cũng hay có độ phóng xạ cao hơn các loại đá bình thường. Kể cả khi mỏ đã ngừng hoạt động, gò đá thải vẫn còn là mối đe dọa đối với môi trường và các khu dân cư lân cận vì khí rađon, nước rỉ ô nhiễm có thể thoát ra ngoài.


Sau khi thu hoạch, quặng urani được đập vỡ rồi nghiền nhỏ ở phân xưởng gia công. Trong quá trình thủy luyện, người ta tách urani ra khỏi quặng bằng một dung dịch thường là axit sunfuric nhưng cũng có khi là dung dịch bazơ. Ngoài urani ra, chất lỏng dung dịch còn hoà tan nhiều kim loại nặng và asen nên phải lọc lấy urani lần nữa. Thành phẩm của khâu chế biến là “bánh vàng" (yellow cake) tức oxit urani U3O8 xen lẫn tạp chất. Nguy cơ lớn nhất ở khâu này là bụi phóng xạ. Bên cạnh đó, hàng chục triệu tấn phế liệu nhiễm chất phóng xạ cũng có thể gây tác động nặng nề. Quặng thải (tailings) mới đầu có trạng thái đặc sệt như bùn được bơm vào bồn lắng, tách lấy phần rắn đưa ra bãi phế liệu. Nó có trọng lượng lớn gần bằng trọng lượng quặng khai thác được và còn giữ khoảng 85 % lượng phóng xạ ban đầu vì ngoại trừ một ít urani (hàm lượng rất thấp do đa số mỏ chứa dưới 0,5 % U), quặng thải bao gồm tất cả các thành phần khác, trong đó có thôri-230, rađium-226... và cả dư lượng urani nữa. Ngoài ra, quặng thải còn chứa nhiều chất độc như kim loại nặng, asen... Vì thế, các bãi phế liệu là nguồn phóng xạ độc hại lâu dài. Tuy có chu kỳ bán rã tương đối ngắn (3,8 ngày), rađon-222 không ngừng phát sinh từ Ra-226 (chu kỳ bán rã 1.600 năm), chất này lại luôn được bổ sung bởi phản ứng phân rã của Th-230 (chu kỳ bán rã 80.000 năm). Phải sau mấy trăm ngàn năm, lượng phóng xạ và sự phát sinh khí rađon mới giảm đáng kể. Ngoài ra, còn có khả năng nước rỉ chứa asen, urani v.v. - đặc biệt nguy hiểm trong môi trường axit vì các đồng vị phóng xạ ở dạng cơ động hơn bình thường - làm ô nhiễm cả nước ngầm lẫn nước bề mặt. Vì chu kỳ bán rã của nhiều chất phóng xạ quá dài nên để bảo đảm an toàn, bãi phế liệu phải được củng cố bằng đập đá hay bê-tông. Điều đó khó thực hiện ở những vùng chịu nhiều tác động xói mòn và thiên tai lũ lụt như Việt Nam. Trong quá khứ, nhiều vụ vỡ đê bảo hộ khiến hàng ngàn tấn bùn và hàng triệu lít nước ô nhiễm tràn ra ngoài, thí dụ như ở Hoa Kỳ năm 1977, 1979 và ở Canađa năm 1984.


Sau khi ngừng khai thác, để phòng tai họa cho con người và môi trường, cần phải thu dọn, cải thiện tình trạng ô nhiễm ở mỏ và phân xưởng gia công, cũng như phải quản lý chặc chẽ một lượng phế thải (đá và quặng thải) hạt nhân khổng lồ. Chi phí xử lý sau khi khai thác tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Đức phải chi 49 USD cho mỗi tấn phế thải hay 14 USD cho mỗi cân Anh U3O8 khai thác ở CHDC Đức cũ, trong khi các chi phí tương ứng của Canađa là 0,48 USD/tấn phế thải và 0,12 USD/lb U3O8. Tổng chi phí xử lý mấy chục triệu tấn phế thải từ một mỏ urani sẽ lên tới hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu đô-la Mỹ. Càng để lâu, việc xử lý phế thải càng khó khăn và tốn kém hơn. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế khuyến cáo ngay khi lập bản dự chi cho việc sản xuất urani nên tính cả kinh phí quản lý môi trường và chất thải trong quá trình khai thác cũng như sau đó.


Giữa bối cảnh môi trường sinh thái ở nước ta đang suy thoái nặng nề, mỗi tác động đáng kể vào tự nhiên đều đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận và những biện pháp phòng chống ô nhiễm chặt chẽ. Huống chi việc khai thác quặng urani lại thải ra một lượng phế liệu phóng xạ độc hại hết sức to lớn. Nếu không được xử lý kỹ lưỡng, nó là mối đe doạ nhiều mặt kéo dài hàng ngàn hàng vạn năm (“ngàn năm phế thải vẫn còn trơ trơ!”). Vì thế cho nên chừng nào nước ta chưa đào tạo đủ công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý có kỹ năng và tinh thần trách nhiệm cao, chưa có luật định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường như hiện nay, chúng ta khoan tiến hành việc sản xuất urani.

Theo Tia sáng


Read full post...

Sunday, November 23, 2008

Ninh Thuận: Địa điểm ưu tiên đặt nhà máy điện hạt nhân

29/04/2006
“Ưu tiên chọn Ninh Thuận làm nơi đặt nhà máy điện hạt nhân”, ông Vương Hữu Tân, Viện trưởng Viện Năng Lượng Nguyên tử Việt Nam đã cho phóng viên VietNamNet biết như trên tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Viện (29/4/1976-29/4/2006).

Ông Vương Hữu Tấn cho biết thêm, có ba địa điểm hiện đang được cân nhắc để lựa chọn làm nơi đặt nhà máy điện hạt nhân. Đó là Ninh Thuận, Phú Yên và Phan Rang. Tuy nhiên, Ninh Thuận vẫn là địa điểm được ưu tiên lựa chọn.

Được hỏi về tiến triển của dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại VN, vẫn theo ông Vương Hữu Tấn, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đã hoàn tất dự án tiền khả thi và đang trình Chính phủ phê duyệt. Dự kiến, đến năm tới (2007), sẽ chuyển sang dự án khả thi nhằm đáp ứng kịp tiến độ thời gian xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại VN.

Theo kế hoạch, nhà máy điện hạt nhân đầu tiên sẽ được xây dựng và đi vào hoạt động bắt đầu từ năm 2020 với quy mô công suất từ 2.000 MW - 4.000 MW, và sẽ chiếm từ 5-9% tổng công suất phát điện toàn quốc.

Về vấn đề lựa chọn công nghệ nào cho nhà máy điện hạt nhân ở VN, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam cho biết, hiện vẫn đang còn trong quá trình phân tích và trưng cầu ý kiến của các chuyên gia. Tuy nhiên, công nghệ của nhà máy điện hạt nhân sẽ được chọn lựa trên cơ sở đảm bảo an toàn cao nhất trong quá trình vận hành.

Có mặt tại buổi lễ nói trên, đại diện Bộ Khoa học-Công nghệ đã lưu ý, để thực hiện dự án Nhà máy điện nguyên tử hạt nhân 2020 thì lãnh đạo Viện phải có ngay các biện pháp đào tạo cán bộ và cán bộ quản lý ngay từ bây giờ. Theo hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), để đưa một nhà máy điện hạt nhân vào hoạt động thì cần khoảng 3.500- 4.500 người, trong đó có khoảng 500-700 người có trình độ đại học và trên đại học, 700-1.000 kỹ thuật viên và 2.200-3.000 công nhân lành nghề các loại

Hiện nay, Viện có 681 cán bộ với tuổi trung bình là 42, trong đó đại học 361 người, thạc sỹ 78 người, tiến sỹ và GS, PGS 62 người. "Với tuổi đời trung bình của cán bộ Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam là 42 thì đây là độ tuổi so với VN là trẻ, nhưng so với quốc tế là… già!" - nhận xét của đại diện Bộ Khoa học-Công nghệ.

Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam đã tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Viện với sự tham dự của nhiều quan chức chính phủ và đại diện Bộ Khoa học-Công nghệ.

Trong thời gian qua, Viện đã có nhiều nỗ lực trong việc đẩy mạnh phát triển ngành y học học hạt nhân ở VN. Viện đã cung cấp các dược chất phóng xạ, hình thành hơn 20 cơ sở y học hạt nhân trong cả nước nhằm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.

Đặc biệt, gần đây, Viện đã hợp tác với Bệnh Viện Quân đội Trung ương 108 và Bệnh viện Chợ rẫy xây dựng dự án PET-Cyclotron. Đây là một công nghệ mới trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là chẩn đoán sớm ung thư vào Việt Nam. Trên cơ sở này sẽ hành thành một trung tâm quốc gia về y học hạt nhân và xạ trị đặt tại Bệnh viện 108.
Soure: VNE
Read full post...

Hàn Quốc : Quan tâm đến dự án xây dựng NM điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam

23/3/ 2006
Hàn Quốc bày tỏ quan tâm đến kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam, sẵn sàng cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài trong việc thực hiện dự án này.

Tại hội thảo về triển vọng điện hạt nhân ở Việt Nam tổ chức ở Hàn Quốc trong hai ngày 21 và 22-3, Bộ Khoa học và Kỹ thuật Hàn Quốc khẳng định sẽ xây dựng chiến lược dài hạn hợp tác phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Theo nhận định của các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và nhà khoa học Hàn Quốc, Việt Nam là một trong những nước Đông Nam Á có bước đi tích cực nhất trong việc nghiên cứu ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.

Điện hạt nhân chiếm khoảng 40% tổng lượng điện tại Hàn Quốc. Năm 1996, Việt Nam và Hàn Quốc ký hiệp định hợp tác nghiên cứu khai thác năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình. Hai bên đã triển khai hợp tác nghiên cứu xây dựng văn bản pháp quy, đào tạo nhân lực, biện pháp bảo vệ môi trường, ứng dụng năng lượng nguyên tử trong lĩnh vực y tế.

Trong khi đó, Cơ quan Xúc tiến Thương mại Hải ngoại Hàn Quốc (KOTRA) cho rằng Việt Nam sẽ là thị trường tiềm năng sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đồng thời khẳng định đây là cơ hội để các doanh nghiệp Hàn Quốc tăng cường đầu tư vào thị trường có hơn 83 triệu dân này.

Tuy nhiên, KOTRA tỏ ý lo ngại về xu hướng giảm sút năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam so với các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Hongkong và Thái Lan. Trong năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam đạt 3,6 tỷ USD, tăng so với 3,3 tỷ USD trong năm 2004, song tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chỉ đạt 8,2% so với mức 27% của năm 2004.

Trong khi đó, xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam năm ngoái tăng 29,7%, Thái Lan tăng 28% và Singapore tăng 26%. Thị phần của các doanh nghiệp Hàn Quốc ở Việt Nam cũng giảm từ 12% trong năm 2002, xuống 10% năm 2004 và chỉ còn 9,7% trong năm 2005.

Source: TTXVN
Read full post...

Vietnam aims to build nuclear power plant within 10 years

Sep 7, 2006
Its ambitions have met with no opposition as many believe Hanoi will comply with UN policy

By Vietnam Correspondent, Roger Mitton

IN HANOI - AS BEFITS its status as a growing force in the region, Vietnam aims to build Asean's first nuclear power plant within the next decade.

Last week, a team of Japanese nuclear power experts visited Hanoi to thrash out details over Vietnam's nuclear programme.

Deputy Prime Minister and Foreign Minister Pham Gia Khiem said Vietnam was undertaking research to develop the nuclear energy industry for peaceful purposes, which included construction of the country's first nuclear power plant by 2015 and to have it fully operational by 2020.

Recently, Vietnam Atomic Energy Commission director Vuong Huu Tan told Chinese news agency Xinhua: We will have to import all fuel rods and equipment for the first plant's two reactors but will strive to produce them locally for following reactors and plants.

'Potential foreign suppliers are France, the US, Russia, Japan and Canada.'

Vietnam has a booming economy, a young and dynamic workforce and the second largest population in Asean after Indonesia.

Its burgeoning energy needs make the decision to go nuclear understandable.

But it is also an authoritarian communist-ruled country that has the largest standing army in Asean.

It fought a bloody border war with China less than 30 years ago, and it has unresolved sovereignty issues with five other countries over resource-rich islands in the South China Sea.

However, while the world frets about the nuclear programmes of North Korea and Iran, Vietnam has quietly embarked on its nuclear scheme with little fanfare and no objections so far.

The reason is partly because many believe that unlike North Korea and Iran, Vietnam will comply with United Nations guidelines enforced by the International Atomic Energy Authority (IAEA).

Said Mr Zachary Abuza, a South-east Asia security expert at Simmons College in the United States: 'Vietnam has good relations with the UN system and has taken its multilateral responsibilities seriously. I believe it will abide by IAEA safeguards and inspections.'

Hanoi plans to locate the first nuclear power station in the central coastal province of Ninh Thuan. Construction is estimated to cost about US$4 billion (S$6.3 billion).

Hanoi hopes to get the plant up and running fast because of the growing energy demands of the booming economy and the region's fastest growing population.

Vietnam has extensive off-shore oil reserves which are being developed, but it currently has no refinery capacity. All petrol must be imported, with much of it from Singapore.

So, like many other countries, it is examining other long term sources of energy for its burgeoning economy.

Said Professor Marvin Ott, who teaches national security policy at the National Defence University in Washington: 'It makes perfect sense that Hanoi would want to develop a civilian nuclear energy capacity.'

Already, Vietnam has built a 500kw experimental reactor at its Dalat Nuclear Research Institute located in the highlands about 200km north-east of Ho Chi Minh City.

Despite entreaties from the Nuclear Suppliers Group led by the United States, Vietnam has resisted moves to ship its high-grade spent fuel from this reactor to Russia in exchange for replacement grade fuel.

Although the Nuclear Suppliers Group has urged Hanoi to agree to IAEA safeguard measures, it has not yet formally signed up to obey these rules.

That stance has caused unease about potential nuclear proliferation, especially given Vietnam's close ties to some of Asia's most repressive regimes and its own authoritarian communist government.

Last week, Vietnam celebrated its national day on Sept 2, and although countries from around the world sent salutations, Vietnam's media only highlighted the well-wishes from China, North Korea, Laos,Cambodia, Cuba and Myanmar.

Iran also has close ties to Vietnam, and, like North Korea, it is known for flouting nuclear proliferation rules and having the potential to develop nuclear weapons.

There is concern that Vietnam could go down the same path as Pyongyang and Teheran, especially if it felt threatened by its traditional enemy China.

Said Prof Ott: 'If I were a Vietnamese defence strategist, I would see a nuclear weapons capability as potentially useful, primarily to prevent bullying by China.'

Of course, any move by Vietnam to use its nuclear power industry to develop nuclear weapons would contravene Asean's strict rules about keeping South-east Asia nuclear-free.

Source: straitstimes.com
Read full post...

30 NĂM VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM: THỜI CƠ VÀ VẬN HỘI

04/2006
Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam (NLNTVN) được thành lập sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đến nay vừa tròn 30 năm (1976-2006). Năm kỷ niệm 30 năm thành lập Viện được đánh dấu bằng sự kiện Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công bố Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình đến năm 2020. Điều đó khẳng định sự quan tâm và đánh giá cao vai trò của NLNT như một ngành kinh tế kỹ thuật đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đối với Viện NLNTVN, Chiến lược này đã thực sự tạo ra những thời cơ và vận hội mới để Viện có thể xây dựng thành một trung tâm nghiên cứu - triển khai công nghệ kỹ thuật cao ngành NLNT ngang tầm các nước tiến tiến trong khu vực.

Với 30 năm tồn tại và phát triển, Viện đã thu được nhiều kết quả tốt trong việc đưa khoa học và công nghệ hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đưa nghiên cứu phát triển điện hạt nhân từ trong phòng thí nghiệm ra các hoạt động chuẩn bị đầu tư, xây dựng đội ngũ và cơ sở vật chất, đảm bảo sự phát triển bền vững và không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế.

Với sự đóng góp tích cực của Viện cả về cung cấp dược chất phóng xạ, sửa chữa và bảo dưỡng thiết bị, đào tạo cán bộ và tư vấn kỹ thuật, mạng lưới các cơ sở y học hạt nhân đã được hình thành trong cả nước với hơn 20 cơ sở phục vụ hiệu quả cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Một số công nghệ mới như xạ trị áp sát, khử trùng dụng cụ y tế và chế tạo màng trị bỏng bằng kỹ thuật bức xạ cũng đã được Viện nghiên cứu và chuyển giao cho ngành y tế. Viện thường xuyên thực hiện việc kiểm chuẩn thiết bị xạ trị và X-quang cũng như đảm bảo an toàn bức xạ trong các hoạt động này cho các cơ sở y tế và trở thành một địa chỉ tin cậy về chuyên môn trong cả nước. Gần đây, Viện đã hợp tác với Bệnh viện Trung ương quân đội 108 và Bệnh viện Chợ Rẫy xây dựng dự án PET-Cyclotron nhằm đưa công nghệ mới trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là chẩn đoán sớm ung thư vào Việt Nam. Trên cơ sở này sẽ hình thành một trung tâm quốc gia về y học hạt nhân và xạ trị đặt tại Bệnh viện 108.

Là đơn vị đi tiên phong trong việc chuyển giao kỹ thuật kiểm tra không phá huỷ (NDT) vào Việt Nam, tạo điều kiện cho việc hình thành cộng đồng NDT Việt Nam (Hội NDT Việt Nam) với hàng trăm hội viên, Viện tiếp tục giữ vững vai trò là cơ quan đào tạo cán bộ trong lĩnh vực NDT ở Việt Nam, đồng thời tổ chức triển khai hiệu quả kỹ thuật NDT để kiểm tra đánh giá chất lượng công trình giao thông và xây dựng như: Cầu Mỹ Thuận, cầu Sông Gianh, cầu Việt Trì, Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, Khu chế xuất Tân Thuận, các cơ sở đóng tàu của VINASHIN,... Về lĩnh vực điều khiển hạt nhân tự động (NCS), Viện đã thực hiện nghiên cứu thiết kế cũng như bảo dưỡng kỹ thuật cho nhiều hệ NCS trong các nhà máy công nghiệp như xi măng Hà Tiên, giấy Bãi Bằng, bia Khánh Hoà,... Kỹ thuật đánh dấu đồng vị phóng xạ đã được nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả trong khảo sát sa bồi cảng Hải Phòng, cảng Thuận An, các hồ chứa nước (Trị An, Thác Mơ, Đa Nhim,…) và tìm bãi đổ cát nạo vét tối ưu cho luồng tàu Nam Triệu. Trong mấy năm gần đây, kỹ thuật này đã được áp dụng để đánh giá dầu dư bão hoà trong các giếng khoan, tối ưu quy trình khai thác để nâng cao suất thu hồi dầu trong khai thác dầu khí và giải quyết một số vấn đề kỹ thuật trong thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí.

Viện đã triển khai ứng dụng kỹ thuật thủy văn đồng vị nghiên cứu đánh giá nguồn gốc, tuổi, lượng bổ cấp, hướng chảy, lưu lượng, độ phân tán, thời gian lưu, nguồn gốc ô nhiễm, tình trạng ô nhiễm và khả năng mặn hoá các nguồn nước ngầm cho khu vực thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và một số tỉnh phía Nam. Hiện tại, phòng thí nghiệm thủy văn đồng vị của Viện là cơ sở nghiên cứu mạnh nhất trong khu vực Đông Nam á.

Trong nông nghiệp, Viện đã nghiên cứu tạo giống bằng kỹ thuật đột biến phóng xạ cho một số loại cây trồng như lúa, khoai tây, hoa cúc, Giống lúa thơm đột biến với năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ xuất khẩu và có khả năng thích ứng rộng đã được tạo ra và đang chuẩn bị để xin đăng ký là giống khu vực và giống quốc gia trong thời gian tới. Kỹ thuật đánh dấu đồng vị đã được phát triển và ứng dụng có kết quả để nghiên cứu chế độ bón phân tối ưu cho một số loại lúa trồng trên các nền đất khác nhau ở Nam Bộ và được nông dân sử dụng, gia tăng hiệu quả kinh tế. Kỹ thuật hạt nhân cũng được nghiên cứu và triển khai áp dụng thử nghiệm nhằm điều chỉnh chế độ tưới nước thích hợp cho cây cà phê ở Bình Phước. Viện đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm kích thích tăng trưởng và bảo vệ thực vật bằng công nghệ bức xạ với năng suất tăng 20-30% cho nhiều loại cây; thử nghiệm kỹ thuật chiếu xạ để khử trùng cơ chất trồng nấm thực phẩm, nấm dược phẩm cao cấp phục vụ xuất khẩu, chuyển giao quy trình trồng một số loại nấm quý như linh chi, bào ngư cho nông dân. Kỹ thuật chiếu xạ thanh trùng thủy hải sản đã được Viện ứng dụng thành công và mở ra một nghề mới cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư phát triển, phục vụ hiệu quả chương trình xuất khẩu thủy, hải sản của đất nước.

Trong điều kiện đầu tư còn hạn chế, nhưng Viện đã thực hiện tốt nhiệm vụ theo dõi phóng xạ môi trường, bước đầu hình thành được cơ sở dữ liệu phông phóng xạ môi trường của nước ta trước khi có nhà máy điện hạt nhân và thường xuyên theo dõi cảnh báo về hiện trạng phóng xạ môi trường. Các nghiên cứu ô nhiễm môi trường biển, môi trường không khí đã được triển khai có kết quả và tham gia đóng góp tích cực vào hoạt động chung của thế giới và khu vực về lĩnh vực này. Tình trạng ô nhiễm các nguyên tố kim loại nặng, độc trong môi trường nước và trong một số loại sinh vật ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu nhằm đánh giá hiện trạng, tìm nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hạn chế, khắc phục. Việc xử lý ô nhiễm cho một số cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ cũng như nước thải của một số nhà máy công nghiệp đã được Viện nghiên cứu và chuyển giao thiết bị, dây chuyền công nghệ xử lý.

Một mảng lớn trong các hướng nghiên cứu của Viện là công nghệ các nguyên tố xạ hiếm. Viện đã nghiên cứu phát triển công nghệ và thử nghiệm thành công các quy trình xử lý quặng uran, điều chế uran kỹ thuật, tinh chế loại bỏ tạp chất, điều chế bột UO2 và chế tạo gốm UO2 với tính chất gần với gốm nhiên liệu hạt nhân. Về đất hiếm, Viện là một trong những đơn vị đi đầu trong nước về kỹ thuật chiết với độ sạch 2-3 con số 9, quy mô điều chế đã nâng lên mức hàng tấn/năm. Nhiều quy trình sản xuất và thiết bị liên quan đến khai thác và chế biến sa khoáng ven biển đã được nghiên cứu và chuyển giao cho cơ sở sản xuất. Hàng năm, Viện đã sản xuất và cung cấp cho thị trường một khối lượng lớn hoá chất công nghiệp có chất lượng, được người sử dụng đánh giá cao, như các hợp chất của kẽm, các chất ổn định nhiệt cho gia công nhựa.

Nghiên cứu phát triển điện hạt nhân là nhiệm vụ chính trị quan trọng của Viện. Từ ngày đầu thành lập, Viện đã thành lập Phòng điện nguyên tử với các nghiên cứu về quy hoạch và lựa chọn địa điểm cho phát triển điện hạt nhân. Sau đó các nghiên cứu được mở rộng để làm rõ các vấn đề về khoa học - công nghệ và kinh tế - xã hội đối với việc phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và chuẩn bị nguồn nhân lực cho chương trình phát triển điện hạt nhân dài hạn của đất nước. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chính phủ về nghiên cứu phát triển điện hạt nhân (Công văn số 7126/KTTH ngày 21.12.1994), Viện đã tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để 2 Bộ: Khoa học và Công nghệ (lúc đó là Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường) và Bộ Công nghiệp xây dựng báo cáo trình Chính phủ về khả năng phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam ngày 25.8.1999. Ngày 7.5.2001, Thủ tướng Chính phủ đã trực tiếp nghe báo cáo về phát triển điện hạt nhân, cho phép tiến hành các nghiên cứu tiếp theo và thành lập Tổ công tác chỉ đạo quốc gia để chỉ đạo các hoạt động có liên quan.

Ba nhiệm vụ quan trọng mà Viện đã thực hiện theo yêu cầu của Thủ tướng là: Xây dựng Chiến lược phát triển NLNTVN; Nghiên cứu làm rõ 7 vấn đề quan trọng trong phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam và tham gia nghiên cứu lập báo cáo tiền khả thi dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam. Các nghiên cứu đã được hoàn thành và trình Chính phủ xem xét trong năm 2005. Ngày 3.1.2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 01/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình đến năm 2020. Đây là một mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển NLNT ở Việt Nam và lần đầu tiên, lĩnh vực NLNT ở nước ta đã được Chính phủ xem như một ngành.

Với sự nhìn nhận nghiên cứu cơ bản là cơ sở để phát triển các nghiên cứu ứng dụng, không có khoa học cơ bản thì không thể có khoa học ứng dụng thực sự, Viện đã quan tâm, tạo điều kiện phát triển một số hướng nghiên cứu cơ bản về hạt nhân như lý thuyết hạt nhân, vật lý năng lượng cao, cấu trúc hạt nhân, phản ứng hạt nhân và các lĩnh vực khác như sinh học, hoá học, vật liệu. Nhiều công trình nghiên cứu của Viện đã được công bố ở các tạp chí quốc tế có uy tín.

Công tác đảm bảo an toàn bức xạ và hạt nhân luôn được quán triệt và thực hiện tốt trong mọi lĩnh vực hoạt động của Viện, trong đó việc đảm bảo an toàn trong hoạt động của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt là ưu tiên số một của Viện. Tính đến nay, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã vận hành tuyệt đối an toàn trong 22 năm, chưa hề xảy ra bất kỳ sự cố nào ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và gây ô nhiễm môi trường. Các thiết bị bức xạ khác của Viện cũng được đảm bảo vận hành an toàn tuyệt đối. Công tác nghiên cứu - phát triển các kỹ thuật đo liều bức xạ đã thu được kết quả tốt, giúp cho Viện có thể đảm bảo toàn bộ dịch vụ đo liều bức xạ trong toàn quốc. Phòng chuẩn cấp II của Viện VILAS-17 đã thực hiện việc kiểm chuẩn các thiết bị bức xạ và thiết bị đo liều trong cả nước, góp phần đảm bảo an toàn bức xạ và nâng cao chất lượng sử dụng các thiết bị bức xạ, đặc biệt là trong chẩn đoán và điều trị. Công việc quản lý thải phóng xạ đã được chuẩn hoá theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo an toàn cho nhân viên bức xạ và môi trường.

Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Viện. Với chủ trương đào tạo thông qua công việc, nhiều cán bộ đã trưởng thành thông qua các hoạt động nghiên cứu - phát triển trong Viện và trở thành những chuyên gia giỏi, có khả năng chủ trì các hướng nghiên cứu lớn hiện nay của Viện, có khả năng trao đổi bình đẳng với các chuyên gia quốc tế và được mời làm chuyên gia cho một số nước, cho Cơ quan NLNT quốc tế (IAEA). Ngoài ra, Viện cũng đã sử dụng triệt để các hình thức đào tạo ngoài nước để nâng cao trình độ cán bộ như đào tạo nghiên cứu sinh, cộng tác viên khoa học và thực tập sinh ngắn hạn, dài hạn. Hàng năm, hàng trăm lượt cán bộ đã được cử đi tu nghiệp nâng cao trình độ ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Viện đã tổ chức nhiều khoá huấn luyện, hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế và khu vực, tạo điều kiện cho cán bộ của Viện mở rộng giao lưu quốc tế, nâng cao kiến thức. Viện cũng đã quan tâm giúp đỡ các trường đại học trong công tác đào tạo sinh viên như thực tập chuyên đề, làm luận văn tốt nghiệp. Viện đã được Chính phủ cho phép đào tạo tiến sỹ cho 5 chuyên ngành: Vật lý hạt nhân nguyên tử, vật lý lý thuyết, hoá phân tích, hoá vô cơ và hoá phóng xạ. Hiện nay, Viện có 681 cán bộ với tuổi trung bình là 42, trong đó đại học - 361 người, thạc sỹ - 78 người, tiến sỹ và GS, PGS - 62 người. Đây là lực lượng quan trọng góp phần đưa ứng dụng kỹ thuật hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và tham gia chương trình nghiên cứu phát triển điện hạt nhân.

Được sự quan tâm của Nhà nước và sự giúp đỡ quốc tế, cơ sở vật chất của Viện trong 30 năm qua đã luôn được đổi mới và nâng cấp. Các cơ sở nghiên cứu như lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, pilot xử lý monazit, 2 trung tâm chiếu xạ quy mô công nghiệp và bán công nghiệp, các phòng thí nghiệm chuyên đề về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp, nông nghiệp, thủy văn đồng vị, an toàn bức xạ và môi trường, sản xuất đồng vị phóng xạ, phân tích, điện tử, vật lý hạt nhân, vật lý vũ trụ, xử lý thải,... đã được được đầu tư nâng cấp thường xuyên và được khai thác sử dụng hiệu quả. Mặc dù đã có những cơ sở vật chất tương đối tốt, nhưng Viện NLNTVN vẫn cần được sự đầu tư tiếp tục của Nhà nước để hiện đại hoá các phòng thí nghiệm, đảm bảo tính đồng bộ trong việc triển khai các nghiên cứu, xứng đáng là cơ quan nghiên cứu đầu ngành về hạt nhân của Việt Nam.

Các thành tựu của Viện trong 30 năm qua gắn bó chặt chẽ với việc đẩy mạnh và mở rộng hợp tác quốc tế. Được Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép là đầu mối hợp tác quốc tế về kỹ thuật trong lĩnh vực NLNT của Việt Nam, Viện đã tổ chức và sử dụng có hiệu quả các kênh hợp tác quốc tế phục vụ phát triển ngành như hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, với IAEA, hợp tác vùng (RCA), hợp tác hạt nhân châu á (FNCA) và hợp tác song phương với các nước. Việc khai thác tốt quan hệ hợp tác quốc tế trong thời gian qua đã tạo nên một nguồn lực quan trọng trong việc tăng cường trang thiết bị, đào tạo cán bộ và trao đổi thông tin. Một nhiệm vụ rất quan trọng trong công tác hợp tác quốc tế của Viện là chủ trì, phối hợp với các cơ quan ở trong nước và các đối tác nước ngoài chuẩn bị các công ước quốc tế và các hiệp định hợp tác với các nước về NLNT. Đây là những vấn đề rất nhạy cảm về chính trị quốc tế, có ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động nghiên cứu - phát triển và ứng dụng NLNT mà cả những vấn đề về an ninh quốc phòng của đất nước. Tính đến nay, Viện đã chủ trì chuẩn bị cho Nhà nước ta ký kết và tổ chức triển khai thực hiện tốt 8 công ước quốc tế, 5 hiệp định hợp tác cấp chính phủ với các nước, góp phần tạo niềm tin của cộng đồng quốc tế về chủ trương phát triển NLNT của Nhà nước và phục vụ hiệu quả cho việc chuyển giao công nghệ và đào tạo cán bộ về NLNT.

30 năm là khoảng thời gian còn quá ngắn với việc xây dựng và phát triển một viện khoa học và công nghệ cao như Viện NLNT Việt Nam. Sau 30 năm phát triển và trưởng thành, Viện đang đứng trước những thời cơ và vận hội mới, khi Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tự hào về những thành tích đã đạt được, Viện sẽ nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, phát huy những thành quả và truyền thống của mình để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa NLNT từng bước trở thành một ngành công nghiệp công nghệ cao phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội như mục tiêu đã đặt ra trong Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình.
Source: tchdkh.org.vn
Read full post...
Add to Technorati Favorites

From vituyen blog