Monday, December 1, 2008

New Wave of Nuclear Plants Faces High Costs

May 12,2008
By REBECCA SMITH

A new generation of nuclear power plants is on the drawing boards in the U.S., but the projected cost is causing some sticker shock: $5 billion to $12 billion a plant, double to quadruple earlier rough estimates.

Nuclear power is regaining favor as an alternative to other sources of power generation, such as coal-fired plants, which have fallen out of favor because they are major polluters. But the high cost could lead to sharply higher electricity bills
for consumers and inevitably reignite debate about the nuclear industry's uitability to meet growing energy needs.

Nuclear plants haven't been built in meaningful numbers in the U.S. since the 1980s. Part of the cost escalation is bad luck. Plants are being proposed in a period of skyrocketing costs for commodities such as cement, steel and copper; amid a growing shortage of skilled labor; and against the backdrop of a shrunken supplier network for the industry.

The price escalation is sobering because the industry and regulators have worked hard to make development more efficient, in hopes of eliminating problems that in the past produced harrowing cost overruns. The Nuclear Regulatory Commission, for example, has created a streamlined licensing process to make timelier, more comprehensive decisions about proposals. Nuclear vendors have developed standardized designs for plants to reduce construction and operating costs. And utility executives, with years of operating experience behind them, are more astute
buyers.

Now, 104 nuclear reactors are operating in the U.S. Most are highly profitable but that was not the case until fairly recently. For the 75 units built between 1966 and 1986, the average cost was $3 billion or triple early estimates, according to the Congressional Budget Office. Many plants operate profitably now because they were sold to current operators for less than their actual cost.

The latest projections follow months of tough negotiations between utility companies and key suppliers, and suggest efforts to control costs are proving elusive. Estimates released in recent weeks by experienced nuclear operators -- NRG Energy Inc., Progress Energy Inc., Exelon Corp., Southern Co. and FPL Group Inc. -- "have
blown by our highest estimate" of costs computed just eight months ago, said Jim Hempstead, a senior credit officer at Moody's Investors Service credit-rating agency in New York.

Moody's worries that continued cost increases, even if partially offset by billions of dollars worth of federal subsidies, could weaken companies and expose consumers to high energy costs.

On May 7, Georgia Power Co., a unit of Atlanta-based Southern, said it expects to spend $6.4 billion for a 45.7% interest in two new reactors proposed for the Vogtle nuclear plant site near Augusta, Ga. Utility officials declined to disclose total costs. A typical Georgia Power household could expect to see its power bill go up by $144 annually to pay for the plants after 2018, the utility said.

Bill Edge, spokesman for the Georgia Public Service Commission, said Georgia "will look at what's best for ratepayers" and could pull support if costs balloon to frightening heights. The existing Vogtle plant, put into service in the late 1980s, cost more than 10 times its original estimate, roughly $4.5 billion for each of two reactors. FPL Group, Juno Beach, Fla., estimates it will cost $6 billion to $9 billion to build each of two reactors at its Turkey Point nuclear site in southeast Florida. It has picked a reactor design by Westinghouse Electric Co., a unit of Toshiba Corp., after concluding it could cost as much as $12 billion to build plants with reactors designed by General Electric Co. The joint venture GE Hitachi Nuclear Energy said it hasn't seen FPL's calculations but is confident its units "are cost competitive compared with other nuclear designs."

Exelon, the nation's biggest nuclear operator, is considering building two reactors on an undeveloped site in Texas, and said the cost could be $5 billion to $6.5 billion each. The plants would be operated as "merchant" plants and thus would not have utility customers on the hook to pay for them, as is the case in both Florida and Georgia. Instead, they would have to cover expenses through wholesale power sales.

Several things could derail new development plans. Excessive cost is one. A second is the development of rival technologies that could again make nuclear plants look like white elephants. A drop in prices for coal and natural gas, now very expensive, also could make nuclear plants less attractive. On the other hand, if Congress decides to tax greenhouse-gas emissions, that could make electricity from nuclear plants more attractive by raising costs for generators that burn fossil fuels. Nuclear plants wouldn't have to pay the charges because they aren't emitters.

Some states are clearing a path for nuclear-power development, even before costs are fully known. They are inspired by a growing fear of climate change. "The verwhelming feeling in Florida is that nuclear power is popular and that's why it's going to go ahead," said J.R. Kelly,head of the Office of Public Counsel in Tallahassee, which represents consumers. "Our main concern is the tremendous cost."

In Florida, state officials are allowing utilities to collect money from customers to cover development and construction costs. In the past, regulators typically required utilities to bear the costs until plants were finished.

Many utilities said they are watching with interest. Ralph Izzo, chief executive of Public Service Enterprise Group Inc. in New Jersey, said his company may not be big enough to build a nuclear plant, even though it is a nuclear operator. "We're concerned by the rise in construction costs," he said.
Source: vwj.com
Read full post...

Phát triển điện hạt nhân: Cần lường trước thách thức lớn

10/05/2008
Việc lập kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở một số địa phương tại Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của dư luận.

Xung quanh vấn đề này, hiện vẫn còn có nhiều ý kiến khác biệt. Để độc giả có thêm thông tin tham khảo, VnEconomy đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với TS. Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện Năng lượng (Tập đoàn Điện lực Việt Nam).

Sạch hơn, rẻ hơn, ổn định hơn?

Thưa ông, điện hạt nhân là một trong những phương án đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng được chú ý, nhưng hiện vẫn còn những ý kiến trái ngược nhau…


Nếu được đánh giá đúng vai trò, điện hạt nhân sẽ có triển vọng phát triển rất tốt ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có những thách thức lớn cần phải lường trước.

Công nghiệp điện hạt nhân trên thế giới đã có lịch sử phát triển hơn 50 năm. Những năm cuối thập kỷ 70, điện hạt nhân đã phát triển rất nhanh. Tuy nhiên, sự cố Three Mile Island (Mỹ ) năm 1979 và thảm hoạ Chernobyl (Liên Xô cũ ) năm 1986 đã làm chậm lại tốc độ của ngành năng lượng mới này.

Nhưng đầu thế kỷ 21, công nghiệp điện hạt nhân đã có bước phát triển mới. Hiện trên thế giới có khoảng 440 lò đang hoạt động, 31 lò đang được xây dựng tính đến năm 2007, cùng nhiều lò đang có kế hoạch xây dựng.

Trong khi đó, theo dự báo trong hai thập kỷ tới, Việt Nam phải phát triển gấp 7-8 lần khả năng cung cấp điện hiện tại mới đảm bảo nhu cầu của nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là chúng ta sẽ phải xây dựng mới các nhà máy để cung cấp thêm hơn 80.000 MW điện.

Như vậy, việc tìm kiếm một nguồn cung cấp đảm bảo với giá thành rẻ và ổn định đang là vấn đề sống còn đối với nền kinh tế.

Nhưng điện hạt nhân thực sự có là nguồn năng lượng sạch và rẻ?


Các nghiên cứu về giá thành sản xuất điện của Pháp, Phần Lan, Mỹ, Nhật Bản đều đi đến kết luận rằng điện hạt nhân có giá thành rẻ hơn so với các nhà máy phát điện sử dụng than, dầu hoặc khí từ 10-20%, tùy thuộc vào các điều kiện xây dựng và vận hành. Đặc biệt, trong điều kiện giá nhiên liệu ngày càng tăng nhanh thì giá thành sản xuất điện hạt nhân lại càng trở nên cạnh tranh hơn.

Giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường cũng làm tăng ưu thế của điện hạt nhân. Nhà máy điện hạt nhân không phát thải khí CO2.

Vậy thì với một nhà máy có công suất 1.000 MW, chi phí đầu tư ban đầu sẽ như thế nào?


Mặc dù đã được cải tiến và tiêu chuẩn hoá các thiết kế để giảm chi phí, nhưng việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân vẫn đòi hỏi một nguồn vốn rất lớn và thời gian xây dựng dài, với các công nghệ phức tạp.

Nguồn vốn đầu tư cho một tổ máy phát điện 1.000 MW có thể lên tới hơn 2 tỷ USD.

Ngoài ra, nguồn nhiên liệu cung cấp cho hoạt động của các nhà máy này có ổn định và tin cậy?


Nhà máy điện hạt nhân đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu rất lớn nhưng chi phí vận hành rẻ. Khi xây đưa vào vận hành, nguyên liệu chủ yếu là các bó thanh nhiên liệu (thông thường là uranium). Nhiên liệu sẽ trải qua quãng thời gian vài năm trong lò phản ứng.

Theo các số liệu đã khảo sát, nguồn nhiên liệu uranium được phân bố khá dồi dào tại Úc, Canada, Nam Phi, Kazakhstan, Brazil, Mỹ, Nga… đủ đảm bảo cung ứng cho ngành công nghiệp hạt nhân trong thời gian dài.

Đó là chưa tính tới việc sử dụng nhiên liệu hỗn hợp và sự phát triển công nghệ lò tái sinh sẽ đem lại cơ hội sử dụng nhiên liệu là thorium lên tới hàng nghìn năm.

“Một sai lầm nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả lớn”


Khi phát triển các nhà máy điện hạt nhân, chúng ta sẽ phải phụ thuộc vào công nghệ của nuớc ngoài. Tính an toàn của những công trình này sẽ được bảo đảm như thế nào?


Xu hướng gần đây cho thấy lò nước nhẹ công suất lớn (bao gồm cả lò nước sôi và lò nước áp lực) đang chiếm ưu thế trong các dự án đang được xây dựng, cũng như các dự án có kế hoạch xây dựng.

Trên thế giới hiện hình thành 3 liên minh cung cấp thiết bị lớn là Westinghouse - Toshiba, Areva - Mitshubishi, General Electric - Hitachi. Ngoài ra, Atomstroi của Nga cũng là nhà thầu có nhiều dự án đang xây dựng ở nước ngoài.
Lựa chọn công nghệ phù hợp với các đặc thù của Việt Nam cũng sẽ là một thách thức lớn cho những người có trách nhiệm đặt nền móng cho ngành công nghiệp nguyên tử.

Tuy nhiên vận hành và bảo dưỡng nhà máy an toàn trong một thời gian dài từ 40 – 60 năm mới là nỗi quan tâm lo lắng nhất. Một sai lầm nhỏ cũng có thể dẫn đến những hậu quả và thiệt hại to lớn.

Không giống như các nhà máy điện khác, vấn đề an toàn ở đây bao gồm cả vấn đề bảo vệ nhà máy chống lại mối đe doạ phá hoại từ bên ngoài (đe doạ gây thảm hoạ phóng xạ), và bảo vệ nguyên liệu hạt nhân.

Sự hậu thuẫn và ủng hộ của các cường quốc, cũng như các nước trong khu vực là một yếu tố quan trọng đảm bảo an ninh của các công trình này. Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ trong nước cũng phải được đào tạo để tiếp nhận công nghệ mới trong thời gian sớm nhất. Tất cả những vấn đề này trong kế hoạch cũng đang được cân nhắc .

Chất thải hạt nhân cũng là vấn đề khiến nhiều người lo lắng. Bài toán này sẽ được giải quyết như thế nào?


Chất thải phóng xạ hiện là một vấn đề chưa có được hướng giải quyết triệt để.

Sau ba năm sử dụng, các thanh nhiên liệu đã cháy được coi là chất thải hoạt độ cao. Tại nhiều nước các chất bó thanh nhiên liệu này được lưu giữ tại nhà máy (thời hạn có thể đến 50 năm) rồi được vận chuyển đến địa điểm lưu trữ lâu dài.

Tuy nhiên, chưa nước nào có được một địa điểm ổn định lưu giữ chất phóng xạ cao này trong thời gian dài (1.000 - 100.000 năm), mà mới chỉ ở mức độ mô phỏng trên mô hình (Pháp). Nhưng các nghiên cứu về xử lý và quản lý chất thải hoạt độ cao đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu.

Hy vọng, với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, sẽ sớm có giải pháp tối ưu cho vấn đề này trong thời gian tới.

Khi lập kế hoạch xây dựng các nhà mày điện hạt nhân, các ông có tổ chức thăm dò ý kiến nhân dân?


Các cuộc triển lãm và thăm dò dư luận tại Hà Nội, Tp.HCM, Ninh Thuận, Phú Yên do Viện Năng lượng và Viện Năng lượng nguyên tử (Bộ Khoa học và Công nghệ) tiến hành trong ba năm, cho thấy tỷ lệ ủng hộ của dân chúng rất cao.

Cụ thể, 90% thấy sự cần thiết của điện hạt nhân, 47,7% coi điện hạt nhân có ích và an toàn, chỉ có 4,6% coi là nguy hiểm.

Tuy nhiên, sự ủng hộ này đang bị giảm sút do thiếu sự tuyên truyền và những thông tin phổ cập. Khi ngành công nghiệp điện hạt nhân chứng minh được giá trị kinh tế, tính an toàn, bảo vệ môi trường, chắc chắn nó sẽ nhận được sự đồng thuận cao hơn.

Sẽ trình Quốc hội dự án điện hạt nhân


Hiện tại, để chuẩn bị cho những nhà máy đầu tiên có thể khởi công, Viện Năng lượng đã và đang làm những gì?


Việc chuẩn bị cho phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam đã được dự kiến từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Tuy nhiên mới chỉ dừng ở nghiên cứu tổng quan.

Công việc chuẩn bị đã được triển khai từ 2002, khi Thủ tướng có ý kiến chỉ đạo lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (báo cáo đầu tư) xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam. Báo cáo này đã được Viện Năng lượng phối hợp cùng một số cơ quan liên quan khác trình Thủ tướng vào tháng 8/2005.

Cuối tháng tư vừa qua, Viện Năng lượng đã được Bộ Công Thương và Tập đoàn điện lực Việt Nam tiếp tục giao nhiệm vụ lập báo cáo đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại địa điểm Phước Dinh 1 và Phước Dinh 2 (Ninh Thuận).

Theo kế hoạch thì báo cáo đầu tư xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân này sẽ trình Hội đồng Thẩm định Nhà nước, sau đó vào tháng 5/2009 sẽ trình Quốc hội. Mỗi địa điểm dự kiến xây dựng hai tổ máy. Mỗi tổ máy có công suất 1.000 MW. Dự kiến, tổ máy đầu tiên sẽ đi vào vận hành năm 2020.

Viện Năng lượng đồng thời đang tiến hành lập hai báo cáo quy hoạch địa điểm chi tiết tại Phước Dinh và Vĩnh Hải để có thể sớm trình Bộ Công Thương phê duyệt địa điểm, nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xây dựng nhà máy.

Ngoài ra, để đáp ứng việc phát triển nhiều tổ máy điện hạt nhân trong tương lai, việc tiến hành tìm kiếm thêm các địa điểm khác là hết sức cần thiết. Công việc qui hoạch các địa điểm tiềm năng này đang được Viện nghiên cứu và sẽ sớm có báo cáo cụ thể.

Source: vneconomy
Read full post...

Điện hạt nhân trong tầm ngắm chiến lược

09/05/2008
Khoảng mười năm nữa, nhu cầu sử dụng điện Việt Nam sẽ tăng gấp đôi. Cuộc khủng hoảng cung cầu điện năng sẽ gay gắt gấp bội hiện nay. Trong tình thế đó, điện hạt nhân đang nằm trong tầm ngắm của các nhà chiến lược năng lượng…

Gay gắt cung cầu
Bước vào mùa hè 2008 này, cả nước ta đang chịu cảnh cắt điện theo lịch. Điều này chứng tỏ sự bắt đầu chu kỳ căng thẳng hàng năm giữa cung và cầu điện năng.

Lý do cũng dễ hiểu. Muốn bảo đảm sự cung cấp điện năng “thoải mái” cho người tiêu dùng, nhà cung cấp không chỉ cấp đủ mà phải có lượng điện dự trữ đề phòng những bất trắc, như hỏng hóc máy móc, thiếu nước cho nhà máy thủy điện, thiếu khí đốt hay than cho nhà máy nhiệt điện v.v…. Chẳng hạn, trong năm nay, theo Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Hữu Hào, nhu cầu công suất điện là 12.000 - 13.000 megawatt (MW), trong khi khả năng cung cấp của tất cả các loại nhà máy điện hiện có chỉ khoảng 12.000 MW. Không có lượng điện dự trữ, nên ở những giờ cao điểm cả nước có thể thiếu đến khoảng 1.000MW. Do vậy, sự căng thẳng điện năng đang xảy ra là điều không tránh khỏi.

Trong một tương lai gần, 10 - 20 năm nữa, sự cân bằng cung cầu càng gay gắt gấp nhiều lần, nếu cấu trúc điện năng nước ta không thay đổi căn bản.

Ở các nước công nghiệp phát triển, thông thường nếu GDP tăng tỷ lệ 1% thì điện năng tăng tương ứng 1,5%, còn những nước như Việt Nam ta, điện năng tăng gấp đôi so với GDP. Bức tranh cung cầu về điện cho những năm 2015 và 2020 được minh họa trên đồ thị kèm theo. Màu vàng mô tả khả năng đáp ứng bằng mọi nguồn điện năng hiện có trong nước. Màu xanh mô tả nhu cầu điện năng, theo hai giả thiết khác nhau: sử dụng điện ở mức cao nhất; gọi là kịch bản cao (HS) hay thấp nhất; gọi là kịch bản thấp (LS).
Bức tranh cung cầu điện năng nước ta năm 2015 và 2020
(Chú thích: Con số trên trục bên trái chỉ lượng điện tổng cộng/ năm,
tính bằng đơn vị TWh; 1TWh = 1012 Wh =1Tỉ KWh)

Theo bức tranh trên, đến năm 2015, mức chênh lệch giữa cung và cầu điện năng sẽ là 46,3 TWh (kịch bản thấp) và 102,4 TWh (kịch bản cao). Còn đến năm 2020, mức chênh lệch giữa cung và cầu điện năng sẽ cao hơn nhiều: 159,8 TWh (kịch bản thấp) và 270,8 TWh (kịch bản cao). Như vậy, cùng với sự tăng trưởng GDP, khoảng cách giữa cung và cầu điện năng càng lớn, càng gay gắt, nếu không có một sự thay đổi căn bản cấu trúc các thành phần điện năng, hay nói cách khác chưa có một nguồn điện năng nào có thể đóng vai trò cứu cánh.

“Cứu cánh” chưa tồn tại

Thử đặt mọi nguồn điện năng đang tiềm tàng lên bàn phân tích.

Trước hết là thủy điện. Thủy điện đã và đang được khai thác triệt để. Nhưng nguồn tài nguyên “trắng’ và sạch đó không phải là vô tận.

Sau nhà máy thủy điện Sơn La đang xây dựng, những nhà máy công suất lớn, cỡ 1.000 MW (megawatt), thậm chí 600 MW cũng không còn nữa. Từ nay, chỉ còn có thể xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ với công suất khoảng 350 MW trở lại. Và tổng điện năng của các thủy điện nhỏ đó, dù có khai thác hết, đến năm 2020 cũng chỉ đạt khoảng 4.500 - 5.000 MW, tương đương một điện lượng xấp xỉ 40 - 45 TWh/năm. Con số này quả là còn xa với nhu cầu đối với kịch bản cao (khoảng 270 TWh) trong năm 2020. Điều này có nghĩa là thuỷ điện chưa phải là nguồn điện cứu cánh cho đất nước trong tương lai gần, một hai thập kỷ tới.

Nhiệt điện than và dầu khí? Đây là dạng năng lượng chủ chốt đang được tập trung khai thác. Nhưng nguồn dự trữ khí ngoài biển rất hạn chế. Dầu cũng không phải quá dồi dào, nếu không nói là sẽ cạn kiệt trong vài chục năm nữa. Mặt khác, càng ngày dầu mỏ càng trở nên nguyên liệu quý hiếm cho nhiều ngành công nghiệp, nên việc đốt dầu thành điện là sự lãng phí đáng tiếc. Vì lẽ đó, trong lĩnh vực nhiệt điên, chủ yếu phải dựa vào điện than.

Nhưng điện than chứa đựng những trở ngại rất lớn. Trước hết, với khả năng khai thác nội địa rất hạn chế hiện nay, nước ta phải nhập một lượng than “kinh khủng”, khoảng vài ba chục triệu tấn than đá mỗi năm. Điều này, trước hết, sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm lớn cho một loạt bến cảng bốc dở than, hay ô nhiễm môi trường nhiều vùng biển rộng lớn của nước ta. Chỉ riêng việc này đã làm mất tính hấp dẫn của loại hình nhiệt điện than. Nhưng điều quan ngại lớn hơn của nhiệt điện than chính là khí phát thải, là hiệu ứng nhà kính, là sự biến đổi khí hậu toàn cầu hiện đang đe dọa cuộc sống và sự phát triển mọi quốc gia trên trái đất.

Liệu có dám chấp nhận mọi trả giá, phát triển ồ ạt nguồn nhiệt điện để biến nó trở thành “con át chủ bài” ngành điện trong những năm 2010-2020 và nhiều năm sau đó, bất chấp những thoả thuận quốc tế ở Kyoto trước đây và Bali mới đây?

Các nguồn năng lượng mới? Năng lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học quả là những nguồn năng lượng sạch, cần thiết và đang được đầu tư nghiên cứu phát triển ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Đó có thể là nguồn điện thực sự cứu cánh của nhân loại trong một tương lai xa, giữa và cuối thế kỷ 21.

Tuy nhiên, hiện nay và trong tương lai gần, xét về phương diện công nghệ cũng như kinh tế (giá thành) các nguồn điện năng này đang còn nhiều hạn chế. Theo tính toán, khả năng đóng góp tất cả các nguồn điện năng này trong năm 2020, ở nước ta, cũng chỉ khoảng 2800 MW, tương đương công suất của hai lò phản ứng hạt nhân năng lượng. Con số đó dù đáng khích lệ, nhưng vẫn nhỏ bé so với nhu cầu điện năng quốc gia.

Vậy giải pháp nhập khẩu năng lượng? Đây là một giải pháp hiện thực, đang được khai thác và sẽ đẩy mạnh hơn trong tương lai. Chúng ta đang nói đến nhập khẩu điện từ các nước láng giềng như Lào, Trung Quốc, Campuchia và nhập khẩu than, chẳng hạn từ Úc. Theo dự tính, đến năm 2015, để bảo đảm cân đối năng lượng, nước ta có thể nhập khoảng 13 TWh điện và khoảng 35 triệu tấn than (theo kịch bản cao).

Đến năm 2020, nếu không có giải pháp mới nào khác, năng lượng nhập khẩu dự tính phải lớn hơn, chiếm khoảng 38-53% tổng năng lượng cần thiết. Ở đây, lại nảy sinh vấn đề nghiêm trọng khác - an ninh năng lượng quốc gia. Một chiến lược năng lượng quá phụ thuộc nước ngoài hẳn là phiêu lưu và chỉ có thể chấp nhận trong những trường hợp bất khả kháng. Dù rằng nhập khẩu năng lượng ở một mức độ nhất định, có tính toán là một trong những giải pháp giải pháp cần thiết, không thể bỏ qua.

Cuối cùng là giải pháp tiết kiệm năng lượng. Đây là giải pháp chung của mọi quốc gia. Đối với các nước đang phát triển, như Việt Nam, càng có ‎ nghĩa đặc biệt. Tuy vậy, chính sách tiết kiệm năng lượng cũng chỉ góp phần giảm bớt chứ không thể giải quyết căn bản tình trạng mất cân bằng gay gắt cung cầu điện năng.

Nhìn chung, các giải pháp điện năng đưa ra trên đây đều cần được quan tâm xem xét, đều có vai trò nhất định trong mạng lưới điện quốc gia. Nhưng, quả thật, chưa có giải pháp nào trong đó có thể xem là cứu cánh cho ngành năng lượng Việt Nam, giúp chúng ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng cung cầu, ít nhất, trong một vài thập kỷ tới. Do đó, việc tiếp cận nguồn năng lượng mới khác, như điện hạt nhân, là điều tất yếu.

Điện hạt nhân mang tầm chiến lược

Điện hạt nhân, trong nhiều năm nay, được các nhà chiến lược và công nghệ năng lượng nước ta quan tâm, bởi sự hội tụ những ưu điểm nội tại về mặt công nghệ và kinh tế, mặt khác thích ứng với chiều hướng hồi sinh của điện hạt nhân trên thế giới trong những năm gần đây.

Dù vẫn còn những lo lắng và e ngại về tính an toàn lò phản ứng hạt nhân và việc chôn cất chất phóng xạ, nhưng 20 năm qua kể từ sự cố Chernobyl, sự vận hành an toàn của hàng trăm lò phản ứng rải rác trên thế giới và sự xuất hiện nhiều biện pháp công nghệ an toàn khác nhau đã đem lại niềm tin mới cho dân chúng đối với công nghệ điện hạt nhân.

Đặc biệt, trong xu thế của thế giới đối phó hiểm họa biển đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, điện hạt nhân quả là sự lựa chọn thích hợp, góp phần tích cực thay thế các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hoá thạch, nhằm giảm hạn chế phát thải khí ô nhiễm môi trường gây hiệu ứng nhà kính. Các yếu tố quan trọng khác đối với những nước đang phát triển như nước ta là điều kiện khá thuận lợi trong việc nhập công nghệ nhà máy điện hạt nhân từ các nước tiên tiến và sự bảo đảm chắc chắn nguồn nhiên liệu uranium nội địa và ngoại nhập trong bối cảnh quốc tế hiện nay.

Tất cả những yếu tố trên cùng với công suất lớn của các lò phản ứng hạt nhân năng lượng trên thị trường thế giới đã mở ra khả năng đáp ứng phần đáng kể nhu cầu điện năng cho đất nước trong tương lai sắp tới, từ năm 2020 đến giữa thế kỷ 21. Vì lẽ đó, phát triển điện hạt nhân đã trở thành nhiệm vụ mang tầm chiến lược của quốc gia hiện nay.

Thực tế trong nhiều năm qua, đặc biệt trong vài năm gần đây, Nhà nước đã có những động thái chuẩn bị cần thiết và nay đang đưa ra những quyết sách mạnh mẽ. Chẳng hạn, vào giai đoạn 1991-1995, trong Chương trình Nhà nước về Khoa học Công nghệ mang mã số KC-09, điện hạt nhân đã được chính thức bắt đầu nghiên cứu, khảo sát qua đề tài “Nghiên cứu khả năng đưa điện nguyên tử vào Việt Nam”. Sau nhiều năm chuẩn bị, vừa qua, năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành “Chiến lược ứng dụng NLNT vì mục đích hoà bình đến năm 2020” và “Kế hoạch tổng thể” thực hiện bản Chiến lược nói trên.

Việc đầu tư nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam đã được nêu rõ trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025’. Chính phủ đang chỉ đạo EVN lập dự án đầu tư xây dựng 2 nhà máy điện nguyên tử với công suất tổng cọng 4.000MW. Về thời hạn, dự kiến đến năm 2020 tổ máy điện hạt nhân đầu tiên sẽ đưa vào hoạt động, và đến năm 2025, mạng lưới điện quốc gia sẽ được bổ sung 11.000MW công suất điện hạt nhân (bằng 5,5 lần công suất của nhà máy thủy điện Hòa Bình hiện nay), tăng tỷ trọng điện hạt nhân, trong toàn bộ hệ thống điện quốc gia, lên đến con số 20-30%.

Về phương diện pháp l‎ý, một Dự án Luật Năng lượng Nguyên tử đã được xây dựng bởi một ban soạn thảo với sự tham gia của các chuyên gia luật pháp và khoa học công nghệ hạt nhân. Dự án này đã đệ trình xin ý kiến Quốc Hội khoá XII xem xét trong kỳ họp thứ 2, sau đó tổ chức để các đại biểu cử tri ở một số địa phương tham gia bổ sung. Chúng ta đang chờ đợi, ngay trong tháng 5.2008 này, tại kỳ họp thứ 3, Quốc Hội sẽ biểu quyết thông qua. Đây là bước đi rất quan trọng mở hành lang pháp lý chính thức phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam.

Chỉ còn 12 năm, kể từ nay đến lúc nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam được ấn định phải đưa vào vận hành chính thức. Hàng loạt công việc phải giải quyết trong khoảng thời gian đó.
12 năm không phải là dài. Hy vọng đúng mốc thời gian đó, năm 2020, Việt Nam sẽ không lỡ hẹn và sẽ chính thức đi vào lịch sử như là một trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á có điện hạt nhân.
Source: VNN
Read full post...

MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG LUẬT PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ Ở NƯỚC TA

28/03/2008
Phan Xuân Dũng
TSKH, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở nước ta đã trở thành một trong những nhiệm vụ thiết yếu, bởi trong một tương lai không xa, thế giới sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về năng lượng trong lúc các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang cạn dần. Những lợi ích từ năng lượng nguyên tử đã thấy rõ, song những mặt trái cũng nhiều, nếu như chúng ta không có những bước đi đúng đắn để lĩnh vực năng lượng nguyên tử ở nước ta phát triển một cách bền vững.

1 - Xu hướng phát triển năng lượng nguyên tử trên thế giới

Cơ cấu năng lượng đang sử dụng của loài người hiện nay chủ yếu nghiêng về nguồn nhiên liệu hóa thạch. Cụ thể, dầu chiếm 40%, than đá khoảng 26%, khí thiên nhiên: 24%(1). Nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay và sự gia tăng dân số thế giới (dự báo: đến năm 2025 là 8 tỉ người và năm 2050 là 9,8 tỉ người), nhân loại sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu về năng lượng, vì nguồn tài nguyên không tái tạo này đang ngày càng cạn kiệt, trong khi nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng từ sức gió... cũng chỉ cung cấp được khoảng 10% tổng số năng lượng cần thiết, nếu không có bước nhảy vọt về công nghệ trong lĩnh vực này.

Trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, thực tế đã chứng minh việc nghiên cứu và sử dụng năng lượng này đã mang lại những lợi ích to lớn. Những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã chú trọng đến phát triển điện hạt nhân (xem bảng 1). Xu thế xây dựng nhà máy điện hạt nhân đang gia tăng và tập trung ở châu Á. Chẳng hạn, ấn Độ đang xây dựng 7 lò phản ứng hạt nhân; Trung Quốc hiện đã có 11 lò và đang hoàn thiện 9 lò, có kế hoạch đến năm 2020 sẽ xây dựng thêm khoảng 30 lò phản ứng hạt nhân mới; Thái Lan đang chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên để đưa vào vận hành năm 2020...

Bảng 1: Số lượng lò phản ứng hạt nhân
đang hoạt động ở các nước tính đến ngày 8-8-2007

Nước

Số lò

phản ứng

Công suất

(Mwe)

Hoa Kỳ

104

100.322

Pháp

59

63.260

Nhật Bản

55

47.587

LB Nga

31

21.743

Hàn Quốc

20

17.454

Vương quốc Anh

19

10.222

Ca-na-đa

18

12.589

CHLB Đức

17

20.339

ấn Độ

17

3.779

U-crai-na

15

13.107

Trung Quốc

11

8.572

Thụy Điển

10

9.034

Tây Ban Nha

8

7.450

Vương Quốc Bỉ

7

5.824

Cộng hòa Séc

6

3.523

Slô-va-ki-a

5

2.034

Thụy Sĩ

5

3.200

Phần Lan

4

2.696

Hung-ga-ry

4

1.755

Pa-kit-xtan

2

425

Ru-ma-ni

2

1.310

Nam Phi

2

1.800

Mê-hi-cô

2

1.360

Ac-hen-ti-na

2

935

Bra-xin

2

1.795

Bun-ga-ri

2

1.906

Lit-tua-ni-a

1

1.185

Ac-mê-ni-a

1

376

Slô-vê-ni-a

1

666

Hà Lan

1

482

Toàn thế giới

439(*)

371.671

(*) Kể cả 6 lò phản ứng của Đài Loan với tổng công suất 4.921 MWe.

Nguồn: Báo cáo của IAEA

2 - Tình hình ứng dụng năng lượng nguyên tử ở Việt Nam

Ở nước ta, năng lượng nguyên tử được sử dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và y tế từ rất sớm và đem lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế - xã hội; nghiên cứu ứng dụng điện hạt nhân cũng bắt đầu được quan tâm. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, tính đến hết năm 2006 cả nước có:

- 188 cơ sở bức xạ sử dụng 1.961 nguồn phóng xạ kín, trong đó, số nguồn được sử dụng trong y tế là 35%, công nghiệp là 30%, nghiên cứu đào tạo là 21% và các lĩnh vực khác là 14%.

- Trong lĩnh vực y tế, hơn 2.700 máy

X - quang chẩn đoán bệnh tại gần 1.900 cơ sở, 22 máy xạ trị Co-60, 10 máy gia tốc, 589 nguồn xạ trị áp sát; 22 cơ sở y học hạt nhân sử dụng dược chất phóng xạ để chẩn đoán và điều trị bệnh với các đồng vị I-131, I-125, P-32, Mo-99/Tc-99m, Sm-153, Tl-201, Ga-67 và In-111.

- Trong lĩnh vực công nghiệp, có khoảng 300 nguồn được dùng trong kiểm tra mẫu không phá hủy và thăm dò dầu khí, riêng trong chiếu xạ thực phẩm có khoảng 5 thiết bị đã hoàn thành việc lắp đặt và đi vào hoạt động.

Theo Bộ Công Thương, sơ bộ cân đối nhiên liệu cho sản xuất điện theo các phương án phụ tải ở các năm 2015, 2020 và 2030 cho thấy, với tổng nhu cầu điện dự báo theo Phương án cao và tổng sản lượng điện có thể cung cấp từ các nguồn than, khí đốt, thủy điện và năng lượng mới ở nước ta, thì còn thiếu tới 23,8 tỉ kWh vào năm 2015; 104,1 tỉ kWh vào năm 2020 và 375 tỉ kWh vào năm 2030 (xem: bảng 2). Do đó, việc phát triển điện hạt nhân là một giải pháp quan trọng cho sự thiếu hụt trên. Điện hạt nhân có nhiều ưu điểm so với nhà máy nhiệt điện và thủy điện, nhưng yêu cầu phải bảo đảm an toàn, an ninh cho nhà máy điện hạt nhân là rất cao.

Bảng 2: Cân đối sơ bộ về nhiên liệu cho sản xuất điện theo các phương án phụ tải ở

các năm 2015 - 2020 và 2030 (theo Báo cáo số 1572 ngày 12-4-2007 của Bộ Công nghiệp):

Năm

2015

2020

2030


Khai thác

SL điện, tỉ kWh PA

Thấp/cơ sở/cao

Khai thác

SL điện, tỉ kWh PA

Thấp/cơ sở/cao

Khai thác

SL điện, tỉ kWh PA

Thấp/cơ sở/cao

Sản lượng than

55,8


64,3


78,4


Cho điện (Tr.tấn)

23,1

55,2

33,1

82,2

47

120,5

Cho ngành khác (*)

32,7


31,2


17,5


Sản lượng khí đốt

15,1


18,3


22


Cho điện (tỉ m3)

13,1

77,6

16

80

18

80

Cho ngành khác (m3)

2,0


2,3


4


Thủy điện

15.090

MW

56

17.700

MW

62,6

20.000

MW

83

Năng lượng mới

1270

MW

3,4

17.700

MW

5,1

3.300

MW

9,5

Tổng sản xuất điện trong nước


192,2


229,9


293

Tổng nhu cầu điện


169/190/216


247/294/334


455/562/668

Thiếu (-) thừa (+)


+23,2/+2,2/-23,8




-162/-269/-375

(*). Chỉ tính than cho nhu cầu trong nước, chưa kể xuất khẩu

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội được Đảng và Nhà nước ta sớm dành nhiều sự quan tâm, trong đó có vấn đề phát triển điện hạt nhân, thể hiện ở các chủ trương, chính sách lớn sau:

- Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ngày

24-12-1996, phần định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã xác định "Chuẩn bị tiền đề khoa học cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử sau năm 2000".

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, phần Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, đã định hướng nhiệm vụ "Nghiên cứu phương án sử dụng năng lượng nguyên tử".

Thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã ban hành các văn bản để tổ chức triển khai thực hiện:

- Ngày 05-3-2002, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định thành lập Tổ công tác chỉ đạo nghiên cứu phát triển nhà máy điện hạt nhân ở nước ta.

- Ngày 05-10-2004, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành điện Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010, định hướng đến 2020, giao nhiệm vụ "Đầu tư, nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để có thể xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam".

- Ngày 03-01-2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020" và ngày 23-7-2007 phê duyệt kế hoạch tổng thể thực hiện chiến lược này.

Việc đẩy mạnh sử dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới đặt ra nhu cầu sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Những quy định của Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ (Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25-6-1996) đến nay đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, việc ban hành một đạo luật có tính pháp lý cao hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử, đổi mới phương thức quản lý, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cũng như tăng cường trách nhiệm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng năng lượng nguyên tử... là rất cần thiết.

Từ đó cho thấy, việc Chính phủ đang tiến hành dự thảo Luật Năng lượng nguyên tử là một bước quan trọng thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về sử dụng năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh trong sử dụng nguồn năng lượng này phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, là phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, mở đường cho việc xây dựng những nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam.

3 - Một số điểm cần lưu ý trong soạn thảo dự án Luật Năng lượng nguyên tử

Thứ nhất: Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và tư tưởng chỉ đạo của Dự án Luật. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng ảnh hưởng đến toàn bộ nội dung của Luật. Lĩnh vực năng lượng nguyên tử rất rộng, có nhiều vấn đề cần quan tâm, vì thế, cần phải làm rõ phạm vi điều chỉnh của Luật. Hơn nữa, đây là vấn đề nhạy cảm không chỉ trong nước, mà còn đối với cả khu vực và trên thế giới, đặc biệt là về việc ứng dụng bức xạ hạt nhân và xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của nước ta. Quy định về các hoạt động phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh cho các hoạt động đó phải được nêu rõ trong Luật. Lĩnh vực năng lượng nguyên tử phải được hiểu là bao gồm cả hai lĩnh vực năng lượng hạt nhân và bức xạ ion hóa.

Khi xây dựng dự thảo Luật Năng lượng nguyên tử, cần xây dựng các nội dung không chỉ phù hợp với Hiến pháp, thống nhất với hệ thống pháp luật nước ta và còn phải tuân thủ những nguyên tắc của pháp luật quốc tế, nhất là với những điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, như: Hiệp ước cấm phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 1982; Hiệp định Thanh sát hạt nhân và Nghị định thư bổ sung (SA) ký năm 1989, phê chuẩn năm 1990; Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) ký năm 1996, phê chuẩn năm 2006; Hiệp ước về khu vực Đông - Nam á không vũ khí hạt nhân (1997); Công ước về thông báo nhanh trong trường hợp sự cố hạt nhân (1987); Công ước về trợ giúp trong trường hợp có tai nạn hạt nhân hay sự cố phóng xạ khẩn cấp (1987); Bộ Quy tắc ứng xử về an toàn và an ninh nguồn phóng xạ, và Hướng dẫn bổ sung về xuất nhập khẩu nguồn phóng xạ (gửi chấp nhận tới IAEA ngày 11-8-2006); Nghị định thư bổ sung (AP) ký ngày 10-8-2007; Công ước về Bảo vệ thực thể hạt nhân (đang nghiên cứu để tham gia).

Tóm lại, tư tưởng chỉ đạo trong Luật cần phải thể hiện được các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình; tạo môi trường pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân; coi phát triển điện hạt nhân là một giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phát triển bền vững và tăng cường tiềm lực khoa học, công nghệ và trình độ công nghiệp của đất nước; bảo đảm an toàn ở mức cao nhất cho con người, môi trường và an ninh xã hội trong ứng dụng và phát triển năng lượng nguyên tử; kế thừa các quy định hiện hành về năng lượng nguyên tử; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật của các nước để áp dụng sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn nước ta.

Thứ hai: Về nội dung quản lý nhà nước trong Luật. Phải tính đến đặc thù của lĩnh vực năng lượng nguyên tử để xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm chính, cơ quan phối hợp của các bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện ứng dụng và phát triển lĩnh vực này. Quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử đòi hỏi sự am hiểu sâu về chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến an toàn, an ninh và công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Nên có sự cân nhắc, tính toán kỹ để bảo đảm sự thống nhất của pháp luật, không nên có những quy định chồng chéo trong hệ thống pháp luật, sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng Luật.

Do đặc thù của lĩnh vực năng lượng nguyên tử với tầm quan trọng và tính nhạy cảm của nó, yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh đối với các cơ sở bức xạ, cơ sở hạt nhân, trong đó có nhà máy điện hạt nhân, bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội..., nên việc phân công, phân cấp rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là hết sức cần thiết.

Bên cạnh việc cân nhắc kỹ với các quy định cụ thể, phân công, phân cấp rõ ràng trách nhiệm cho các cơ quan quản lý nhà nước, nhằm bảo đảm sự thống nhất cao, tránh chồng chéo, thì vẫn phải bảo đảm tính linh hoạt, thích ứng với yêu cầu quản lý nhà nước của từng thời kỳ.

Về phân công trách nhiệm, cơ quan quản lý nhà nước chủ trì xây dựng quy hoạch sử dụng quặng phóng xạ, quy hoạch địa điểm chôn cất, xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ một cách an toàn; về xây dựng và quản lý nhà máy điện hạt nhân; phân công cơ quan có thẩm quyền cấp phép cho hoạt động của nhà máy điện hạt nhân; quy định trách nhiệm về bảo đảm an ninh, an toàn cho nhà máy điện hạt nhân,... cần có sự thống nhất phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng.

Thứ ba: Về tính chiến lược của dự án Luật. Trên thế giới, phần lớn các nước phát triển điện hạt nhân như Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Nga... đều có cơ quan hội đồng năng lượng nguyên tử quốc gia làm chức năng tư vấn cho thủ tướng chính phủ về: Lập kế hoạch, thẩm định, quyết định chính sách cơ bản về năng lượng nguyên tử; chiến lược, kế hoạch phát triển ngành năng lượng nguyên tử, chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phát triển nguồn nhân lực về năng lượng nguyên tử; lập kế hoạch dài hạn về nghiên cứu phát triển và sử dụng năng lượng nguyên tử quốc gia. Thủ tướng chính phủ hoặc tổng thống các quốc gia được giao trách nhiệm là chủ tịch hội đồng. Thành viên hội đồng thường là các nhà hoạch định chính sách, các chính trị gia.

Ở các quốc gia khác nhau, việc hình thành cơ cấu và quy mô tổ chức của ủy ban này cũng cũng khác nhau, chẳng hạn:

Tại Pháp, Ủy ban Năng lượng nguyên tử quốc gia có tới 15.000 nhân viên và có ngân sách hoạt động trên 3 tỉ Ơ-rô/năm, bên cạnh phục vụ các nhiệm vụ cụ thể trong nước thì còn giúp thành lập các khuôn khổ pháp lý cần thiết và các chương trình đào tạo nhằm duy trì kế hoạch hạt nhân dân sự.

Tại Nhật Bản, Hội đồng Năng lượng nguyên tử quốc gia được thành lập từ ngày 1- 1-1956, có cơ cấu tổ chức rất gọn nhẹ, do thủ tướng đứng đầu cùng với 5 thành viên khác được Quốc hội phê chuẩn. Giúp việc cho Hội đồng gồm có 25 chuyên gia làm việc chuyên trách. Khi cần thiết Hội đồng này huy động các chuyên gia, các nhà chính khách... cùng tham gia. Nhiệm vụ chính của Hội đồng là lập kế hoạch, thẩm định, quyết định chính sách cơ bản về năng lượng nguyên tử; lập kế hoạch dài hạn về nghiên cứu phát triển và sử dụng năng lượng nguyên tử quốc gia.

Ở Việt Nam, theo chúng tôi rất cần có Hội đồng hoặc Ủy ban tương tự để lĩnh vực năng lượng nguyên tử phát triển một cách bền vững, có một chiến lược phát triển hợp lý, tránh tình trạng "giật gấu, vá vai", "thích gì làm nấy", "đến đâu, hay đó". Vì thế, trong Dự án Luật cần quy định phải có Hội đồng hoặc Ủy ban Năng lượng nguyên tử quốc gia. Các thành viên là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Y tế...

Thứ tư: Về an toàn của lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trong Luật cần có quy định về Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia, vì vấn đề an toàn của nhà máy điện hạt nhân và các cơ sở hạt nhân khác là rất hệ trọng. Sau khi nhà máy điện hạt nhân hoàn thành, hội đồng này có nhiệm vụ tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong việc ra các quyết định có liên quan đến chính sách và các biện pháp bảo đảm an toàn hạt nhân trong sử dụng năng lượng nguyên tử; đánh giá kết quả thẩm định về an toàn của nhà máy điện hạt nhân để tư vấn cho cơ quan có thẩm quyền cấp phép vận hành, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động của nhà máy điện hạt nhân và các cơ sở hạt nhân khác. Hội đồng cần phải chịu trách nhiệm về ý kiến tư vấn của mình.

Hội đồng An toàn hạt nhân quốc gia là tổ chức tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ với đa số thành viên là các chuyên gia an toàn hạt nhân. Vì vậy, việc thành lập Hội đồng an toàn hạt nhân quốc gia; quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ chế làm việc của Hội đồng thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chủ tịch Hội đồng nên cơ cấu một bộ trưởng chuyên ngành. Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Pháp đều làm như vậy. Ở Việt Nam, theo đặc thù tổ chức Chính phủ, thành viên hội đồng, nên có sự tham gia của lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng và đại diện của Bộ Y tế, ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có nhà máy điện hạt nhân. Hội đồng này thuần túy là tổ chức tư vấn về an toàn hạt nhân, nên cần có 2/3 thành viên là các chuyên gia an toàn hạt nhân.

Về vấn đề quản lý an toàn hạt nhân trong nhà máy điện hạt nhân, theo chúng tôi, nên giao Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm quản lý; vì tổ hợp nhà máy điện hạt nhân có nhiều kết cấu liên quan chặt chẽ với nhau, nếu xảy ra sự cố ở bất kỳ bộ phận nào của tổ hợp đó cũng đều dẫn đến khả năng gây mất an toàn cho lò phản ứng hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân. Tuy nhiên, cần rà soát, xem xét lại một số quy định nhằm bảo đảm cho Bộ Khoa học và Công nghệ có thể thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước về an toàn nhà máy điện hạt nhân.

Thứ năm: Về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại bức xạ và hạt nhân. Quy định quốc tế về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại hạt nhân là 10 năm đối với thiệt hại về tài sản và môi trường, 30 năm đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người. Quy định như vậy bảo đảm được quyền lợi của người bị thiệt hại, vì khi xảy ra sự cố hạt nhân thì mức độ thiệt hại không thể xác định được ngay, tác hại đối với môi trường và sức khỏe con người có thể rất lớn và lâu dài. Thiệt hại hạt nhân có tính đặc thù, có thể không có di chứng ngay lập tức mà nhiều năm sau mới phát hiện ra, thậm chí thiệt hại về sức khỏe mang tính di truyền, ảnh hưởng ở các thế hệ thứ 2, thứ 3... Đối với Việt Nam, việc đưa ra những quy định như vậy cũng là một điều hợp lý.

Thứ sáu: Về hoạt động thanh sát hạt nhân. Hoạt động thanh sát hạt nhân nên hiểu là hoạt động kiểm soát việc sử dụng vật liệu hạt nhân, vật liệu, thiết bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và các hoạt động có liên quan nhằm ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân.

Hoạt động thanh sát là hoạt động đặc thù, không hoàn toàn đồng nhất với hoạt động kiểm tra, kiểm soát, mà còn bao gồm cả việc kiểm toán, thống kê, xây dựng và quản lý hệ thống dữ liệu về vật liệu hạt nhân. Như vậy, cần làm rõ "thanh sát hạt nhân quốc tế" với các công tác kiểm tra, kiểm soát hạt nhân trong nước.

Hoạt động "thanh sát hạt nhân quốc tế" là hoạt động do thanh sát viên quốc tế thực hiện theo Hiệp định thanh sát hạt nhân quốc tế, do vậy phải soạn thảo các nội dung phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Còn đối với việc thanh sát hạt nhân trong nước, nên quy định là hoạt động kiểm tra, kiểm soát của cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về phát triển, sử dụng năng lượng nguyên tử và của cơ quan quản lý về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân.

Thứ bảy: Về lập, phê duyệt quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Nhưng việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử là vấn đề phức tạp liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và các đối tượng khác nhau. Do đó, để bảo đảm tính khả thi, Luật cần quy định rõ việc phân công, phân cấp trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể. Ví dụ, đối với trách nhiệm lập quy hoạch: a) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì lập quy hoạch tổng thể phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử; b) Bộ Công thương chủ trì lập quy hoạch phát triển điện hạt nhân; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng phóng xạ; c) Bộ Xây dựng chủ trì lập quy hoạch tổng thể quốc gia về thu gom, xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ; d) bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức lập quy hoạch phát triển, ứng dụng bức xạ khác cho lĩnh vực quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của mình.

Tương tự như vậy, đối với việc quy trách nhiệm thẩm định quy hoạch cũng cần có sự phân công, phân cấp một cách rõ ràng và khoa học.

Thứ tám: Về phát triển nguồn nhân lực và đầu tư phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử. Trong Luật nên có quy định biện pháp tăng cường tiềm lực con người, chính sách đào tạo nguồn nhân lực và chuyên gia có trình độ cao; trách nhiệm của các trường đại học, viện nghiên cứu trong công tác đào tạo nguồn nhân lực. Những giải pháp về nhân lực là rất cần thiết, cần được xây dựng thành những đề án riêng để giải quyết từng vấn đề cụ thể; Luật chỉ quy định những nội dung có tính nguyên tắc, còn các biện pháp cụ thể sẽ do Chính phủ quy định cho phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ.

Cần cân nhắc về việc khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho phát triển điện hạt nhân theo chương trình dài hạn. Việc đầu tư phát triển điện hạt nhân đòi hỏi đầu tư nguồn vốn lớn và tiến hành trong thời gian dài, nên việc huy động các nguồn lực của xã hội cho lĩnh vực này là cần thiết.

Thứ chín: Về quản lý, xử lý chất thải phóng xạ, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Quy định về quản lý và thanh lý nguồn phóng xạ qua sử dụng được quy định trong Luật có thể là: Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phân loại, xử lý chất thải phóng xạ, xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng; Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với kho lưu giữ chất thải phóng xạ quốc gia và địa điểm chôn cất chất thải phóng xạ; phê duyệt địa điểm kho lưu giữ chất thải phóng xạ quốc gia, địa điểm chôn cất chất thải phóng xạ; hướng dẫn việc báo cáo tình trạng chôn cất và lập bản đồ địa điểm chôn cất chất thải phóng xạ.

Đối với các hành vi bị nghiêm cấm, cần làm rõ quy định nghiêm cấm nhập khẩu chất thải có chứa chất phóng xạ; các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép chất phóng xạ và chất thải phóng xạ, vật liệu phóng xạ và hạt nhân bằng đường bưu điện và các phương tiện vận chuyển khác mà không được thiết kế hoặc có thiết bị bảo đảm an toàn.

Thứ mười: Về yêu cầu đối với nhà máy điện hạt nhân. Quy định việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân phải theo quy hoạch phát triển điện hạt nhân do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Việc lựa chọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo đảm an toàn lò phản ứng hạt nhân của nhà máy điện hạt nhân phải tuân thủ các quy định của Luật này và các quy định tương ứng của các luật khác có liên quan.

Khi trình Quốc hội xem xét quyết định chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân thì phải dự kiến địa điểm xây dựng nhà máy và lựa chọn công nghệ; các quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho thiết kế, thi công và xây dựng.

Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân có tầm quan trọng đặc biệt. Theo kinh nghiệm của các nước đã phát triển điện hạt nhân, việc lấy ý kiến của nhân dân là cần thiết và thông qua Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là phù hợp với điều kiện ở nước ta, nhất là các ý kiến thể hiện nguyện vọng của nhân dân về các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh, kế hoạch xây dựng hạ tầng kỹ thuật phát triển văn hóa, giáo dục, phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm hài hòa các lợi ích.

Cần làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan ở cấp trung ương, cũng như chính quyền địa phương cấp tỉnh khi có sự cố xảy ra với các quy định và giải pháp khẩn cấp cụ thể.

Trong khi có sự cố xảy ra, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an là lực lượng nòng cốt trong việc ứng phó. Khi cần thiết, với những sự cố nghiêm trọng, nên có sự huy động nhân lực, phương tiện và phối hợp quốc tế. Bộ, ngành nào chịu trách nhiệm chính trong trường hợp như vậy cũng nên quy định trong dự thảo Luật.

Về mức sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cần phân loại theo chuẩn mực quốc tế. Về vấn đề này, theo Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, có 2 cách phân loại mức sự cố hạt nhân để phục vụ cho 2 mục đích sử dụng khác nhau, cụ thể như sau: Phân loại 7 mức sự cố để phục vụ cho việc thông báo nhanh với báo chí và dân chúng (INES)(2), Phân loại 5 mức sự cố để lập kế hoạch và áp dụng các biện pháp ứng phó(3).

Về chính sách đối với địa phương được chọn xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cần đề nghị bổ sung một điều hoặc khoản quy định về chính sách đối với địa phương nơi đặt nhà máy điện hạt nhân.

*

* *

Thiết nghĩ rằng, phát triển điện nguyên tử là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Với quyết tâm cao, chắc chắn chúng ta sẽ có nhiều nhà máy điện hạt nhân hiện đại, an toàn và hiệu quả vào bậc nhất thế giới trong tương lai không xa.

(1) Theo Y.Iwakoshi: Hỏi đáp về năng lượng nguyên tử, Diễn đàn công nghiệp nguyên tử Nhật Bản, Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội, tháng 5-2004
(2) Tham khảo tài liệu của IAEA về INES: "The International Nuclear Events Scale (INES) is used for facilitating rapid communication to the media and the public regarding the safety significance of events at all nuclear installations"
(3) Tham khảo tài liệu của IAEA về ứng phó sự cố bức xạ và sự cố hạt nhân (EPR-Method 2003)

Source: www.tapchicongsan.org.vn
Read full post...

Việt Nam sẽ có 2 nhà máy điện hạt nhân

24/04/2008
Trước nguy cơ thiếu điện và chi phí sản xuất điện từ than, dầu tăng chóng mặt như hiện nay, Chính phủ mới đây đồng ý đẩy nhanh tiến độ và tăng gấp đôi quy mô dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam, từ 2.000 lên 4.000 MW, tại 2 địa điểm ở tỉnh Ninh Thuận.
> Khó khăn lớn nhất cho nhà máy điện hạt nhân / Thông tin về nhà máy

Làm rõ hơn chủ trương của Chính phủ, Bộ Công Thương đã chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) làm báo cáo đầu tư để xây dựng dự án điện hạt nhân đầu tiên tại cả hai địa điểm là xã Phước Dinh (huyện Ninh Phước) và xã Vĩnh Hải (huyện Ninh Hải). Mỗi nơi sẽ có một nhà máy công suất 2.000 MW, với 2 tổ máy.

Ông Phạm Lê Phú, Phó ban chuẩn bị đầu tư dự án điện hạt nhân, thuộc EVN, cho biết báo cáo đầu tư của nhà máy tại Phước Dinh đã hoàn tất, đang được chỉnh sửa để trình Bộ Công Thương và Chính phủ vào tháng 5 tới. Ngay sau đó, EVN sẽ làm tiếp báo cáo đầu tư cho nhà máy tại Vĩnh Hải.

EVN hy vọng đến tháng 5/2009, dự án gồm 2 báo cáo sẽ được trình trước Quốc hội để xin chủ trương đầu tư, và có thể khởi công vào năm 2015.

Cũng theo ông Phú, việc xây 2 nhà máy tại 2 địa điểm, thay vì dồn thành một nhà máy lớn với công suất 4.000 MW sẽ giúp tận dụng được báo cáo đầu tư đã làm, đồng thời có thể giảm gánh nặng cho nhà thầu và cả chủ đầu tư. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam chọn được 2 nhà thầu và đa dạng hóa công nghệ.

Ngoài ra, trước tình hình giá nguyên liệu sản xuất điện tăng mạnh như hiện nay (dầu tăng gần 3 lần so với 2 năm trước, than tăng từ 1,5 đến 2 lần so với năm ngoái), Chính phủ đã đề nghị đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án để có thể phát điện trước năm 2020, sớm hơn so với dự kiến trước kia.

Nhà máy điện hạt nhân sẽ có diện tích trong hàng rào là 400 ha, với công suất 2.000MW, lớn hơn nhà máy thủy điện Hòa Bình (1920 MW).
Source: VNE
Read full post...
Add to Technorati Favorites

From vituyen blog